những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22

Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22

Đời Sống

Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện Thông tư 22 là gì?

Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22 là gì? Nếu bạn đang quan tâm đến chủ đề này thì hãy theo dõi bài viết dưới đây!

Thông tư 22 ra đời, bổ sung thêm 13 điều trong tổng số 20 điều so với Thông tư 30 về đánh giá học sinh tiểu học và có hiệu lực từ 06/11. Và cũng không tránh khỏi việc nhiều giáo viên băn khoăn và trăn trở với thông tư 22. Vậy những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện Thông tư 22 là gì? Nếu bạn đang quan tâm đến chủ đề này hãy theo dõi bài viết sau đây!

những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22
Hình 1: Đánh giá kết quả thực hiện Thông tư 22

Những thuận lợi khi thực hiện Thông tư 22

Đối với học sinh

– Học sinh hình thành ý thức, thói quen trong tổ chức, hợp tác điều hành, giao tiếp, chia sẻ trong học tập. Các em cũng có kỹ năng tự nhận xét, nhận xét bạn, không còn trường hợp học sinh bị áp lực về điểm số. 

– Hình thức khen thưởng đa dạng hơn, không chỉ khen thưởng về thành tích học tập mà còn khen thưởng các nội dung khác như: học sinh vượt khó, học sinh xuất sắc, học sinh tiến bộ trong học tập từng môn học… có tác dụng tạo động lực cho học sinh, giúp học sinh học tập, rèn luyện toàn diện hơn. Việc đánh giá năng lực của học sinh theo 3 mức: HHT, HT, CHT sẽ khuyến khích sự cố gắng phấn đấu của học sinh. Bản thân cha mẹ học sinh cũng biết được học lực thực sự của con mình để giúp con tiến bộ từng ngày.

những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22
Hình 2: Những thuận lợi khi thực hiện Thông tư 22

– Việc đánh giá bằng nhận xét sẽ không gây áp lực cho học sinh và giáo viên. Khi nhận xét, đánh giá, giáo viên đặc biệt quan tâm, động viên, khích lệ, biểu dương kịp thời từng thành tích của các em. Qua đó, giúp tất cả cùng tiến bộ, đặc biệt là học sinh yếu kém tự tin và phấn đấu hơn nữa. 

Đối với giáo viên

– Giáo viên căn cứ vào những biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời

– GVCN chủ động hơn trong việc ghi sổ theo dõi từng HS.

– GVCN khi họp với GV bộ môn sẽ tiếp thu thêm những nhận xét, nhận xét về năng lực, phẩm chất của từng HS từ đó đánh giá. GVCN sẽ giảm bớt tính chủ quan của mình. 

– Giáo viên dạy các bộ môn tăng cường vai trò giúp đánh giá, nhận xét cụ thể hơn về năng lực, phẩm chất. 

– Về NL-PCTT cũng quy định, đánh giá chất lượng thường xuyên vào giữa và cuối mỗi kỳ. Đánh giá theo 3 mức: tốt, đạt và cần cố gắng. Với cách đánh giá này nhằm giúp GV đánh giá HS chính xác hơn, PH nhìn vào đánh giá kết quả của trường để có giải pháp khắc phục kịp thời giúp HS khắc phục những hạn chế, phát huy những điểm tích cực để các em ngày càng tốt hơn. 

– Về đánh giá học tập thường xuyên thì đánh giá theo 3 mức: HTT, HT, CHT, về tâm lý thì 3 mức này ghi nhận cụ thể hơn kết quả phấn đấu. Đồng thời, cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi hữu ích liên quan đến quá trình học tập của học sinh, những lĩnh vực nào đang đạt được tiến bộ. Và những lĩnh vực nào còn yếu, giúp học sinh nhận ra mình còn thiếu sót mặt kiến thức, kĩ năng để cả thầy và trò điều chỉnh hoạt động dạy và học.

Đối với phụ huynh học sinh

– Động viên cha mẹ học sinh trao đổi, phối hợp với giáo viên để động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện, phát triển năng lực, phẩm chất. Việc trao đổi với phụ huynh học sinh giúp giáo viên có cái nhìn khách quan hơn về từng đối tượng học sinh.

Những khó khăn khi thực hiện Thông tư 22

những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22
Hình 3: Họp đánh giá sau khi thực hiện Thông tư 22

Đối với phụ huynh học sinh

– Đa số phụ huynh học sinh còn quá nặng về thành tích thông qua điểm số thay vì đánh giá, nhận xét thành tích bằng lời nói.

Đối với giáo viên

– Giáo viên dạy các môn đặc thù bình quân chỉ dạy 1 tiết / 1 tuần nên thời gian quan sát, tiếp xúc với học sinh không nhiều nên việc đánh giá chất lượng học sinh sẽ không chính xác như giáo viên dạy kỹ thuật. Mặt khác, giáo viên kỹ thuật gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin học sinh từ giáo viên dạy bộ môn cụ thể. 

– Các nhận xét dễ bị trùng lặp, gây áp lực cho giáo viên trong việc chắt lọc từ ngữ để đưa ra nhận xét phù hợp với 3 đánh giá: HTT, HT, CHT. Phải hết sức cân nhắc về việc nhận xét đối với từng đối tượng học sinh. Làm thế nào để qua lời nhận xét đó của giáo viên, học sinh nhận thức được ý của giáo viên muốn truyền đạt cho học sinh. Khó nhất là HS học lực giảm sút, nhiều lời nhận xét khéo léo sẽ khiến PH bối rối.

– Giáo viên khó tìm ra biểu hiện, khó phân định ranh giới giữa các mức độ đánh giá. Khi nói đến đánh giá định kỳ kết quả học tập, ranh giới giữa thành tích tốt và hoàn thành là không rõ ràng. Để đánh giá chính xác đòi hỏi người giáo viên trong TX thẩm định phải thu thập nhiều minh chứng. Bên cạnh đó, kết quả học tập của học sinh tiểu học thường thiếu ổn định, có thể hôm nay học sinh đạt điểm 9, điểm 10 nhưng ngày mai lại không có HT, điểm kém.

những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22
Hình 4: Những khó khăn khi thực hiện Thông tư 22

Hướng khắc phục khó khăn:

– GVCN và GV bộ môn cần kết hợp với nhau để đánh giá HS. 

– Tuyên truyền nội dung đánh giá của Thông tư 22 đến cán bộ, giáo viên và học sinh. Tư vấn cách ghi nhận xét, nhận xét bằng lời nói cho giáo viên. 

– Tích cực phát huy tác dụng của những điểm mạnh trong Thông tư 22 để phụ huynh yên tâm đánh giá, nhận xét vô tư, khách quan đối với giáo viên và làm sao để giảm áp lực cho giáo viên. Để giáo viên có thời gian đầu tư nâng cao chất lượng dạy học và nhà trường quản lý chất lượng giáo dục. Đồng thời, cha mẹ học sinh cần tích cực hơn nữa trong việc phối hợp với giáo viên, nhà trường thực hiện tốt Thông tư 22 của Bộ GD & ĐT về đánh giá, nhận xét học sinh. Có ý kiến ​​đề xuất nhận xét đánh giá theo từng mức độ cụ thể, có thể trùng lặp giữa các học sinh có học lực tương đương nhau.

– Tuyệt đối không được so sánh học sinh này với học sinh khác. Không chỉ trích những lỗi sai của học sinh mà phải nhẹ nhàng, khéo léo chọn những từ ngữ phù hợp để nhắc nhở, động viên các em sửa chữa nhằm tiến bộ trong học tập, sinh hoạt. Theo TT 30-22, giáo viên cần thống nhất với phụ huynh những công việc cơ bản của học sinh ở nhà, hướng dẫn phụ huynh cách theo dõi, quan sát, nhận xét, giúp đỡ con kịp thời. Thống nhất hình thức và thời gian cung cấp thông tin giữa phụ huynh và giáo viên một cách linh hoạt hơn. 

– Giáo viên phải tự học để tích lũy và làm giàu vốn từ cho bản thân. Tự rèn luyện kỹ năng quan sát, theo dõi, bao quát học sinh 

– Căn cứ vào thang điểm 10 của bài kiểm tra định kì và quá trình đánh giá thường xuyên để đánh giá học sinh theo các mức độ: HTT, HT, CHT.

Kết luận

Trên đây là những thông tin về chủ đề: Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện thông tư 22. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *